*** Provided by : 吳淑漢先生Moving words ***

(Quẻ Ký tế trong kiến trúc của Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa)  

 

Có những điều đã nói, nay muốn nói lại, nói thêm nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu và thế nào cho phải lẽ. Nhất là những vấn đề đó lại là điều mà lòng ta luôn mang nặng. Năm 2006, khi thực hiện Đề tài“Những ngôi chùa cổvà tục thờ của người Hoa ở Khánh Hòa”, chúng tôi đã có bài viết khá chi tiết về Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa – nơi mà tôi vẫn nghĩ là đã hiểu khá nhiều, khá sâu. Cho đến một ngày gần đây tôi mới biết, té ra có nhiều điều trước đây mình hiểu về Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa chỉ là hiểu cái bề ngoài. Thôi thì lại phải nói thêm những điều cần phải nói.
 Với tôi, Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa là điểm tựa dịu dàng để mỗi khi ngả lòng tìm về nương tựa. Nơi ấy, có ngôi trường không giống với những ngôi trường khác, bởi ở đó là nơi thờ phụng thiêng liêng của những người Hoa gốc Hải Nam đến đây trú ngụ từ hơn trăm năm trước. Giới hạn của những hoạt động đời thường của lũ học sinh chúng tôi và khoảng không gian thâm nghiêm thần thánh kia chỉ là một bức vách ngăn, một khung cửa gỗ, đôi khi còn được nối liền bởi những tiếng chuông, tiếng khánh âm vang vào những ngày sóc vọng. Đó là nơi nhiều thế hệ người Hoa đã cất dấu tuổi thơ, để người đi luôn nhớ, người ở mãi thương…
Còn nhớ, vào những năm đầu thập kỷ 60, người Hoa ở Ninh Hòa làm ăn rất là phát đạt, việc học Trung văn không còn dừng ở mục đích bảo tồn nguồn gốc mà quan trọng hơn là phải hòa nhập vào hệ thống giáo dục chung của xã hội bấy giờ. Từ nhu cầu giáo dục đó, năm 1970 Hội người Hoa ở Ninh Hòa đã làm cuộc vận động lớn để lấy tiền xây dựng trường Trung học Bình Hòa khang trang ngay trên phần đất phía trước, chấm dứt một thời kỳ dài hơn bảy mươi năm trường học nằm trong Hội quán. Trả lại cho Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa dáng vẻ trầm mặc, thâm nghiêm của ngôi chùa cổ…
* * *
Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa còn gọi là Chùa Bà Hải Nam được xây vào năm Đồng Trị thứ 8 (năm 1868) trên khu đất rộng hơn mẫu Tây nằm ngay cạnh mặt đường Trần Quý Cáp, thôn Vĩnh Phú, thị trấn Ninh Hòa. Gọi là Chùa Bà vì khi mới tạo lập, Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa chỉ xây có mỗi Thiên Hậu Cung để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Mãi hơn sáu chục năm sau, do nhu cầu tâm linh Bang Hải Nam mới xây thêm Hiệp Thiên Cung (Quan Thánh Miếu) để thờ Quan Thánh Đế Quân. Ngày nay, khách hành hương đến thăm nơi đây sẽ thấy hai tòa nhà mái ngói lưu ly đứng cạnh nhau trong thế Lưỡng nghi, tạo nên sự độc đáo trong kiến trúc thờ tự của người Hoa ở Ninh Hòa.
Tín ngưỡng của người Hoa ở Việt Nam nói chung rất đa dạng, trong đó tục thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân là phổ biến nhất.Tuy nhiên, sự khinh trọng của hai tục thờ còn tùy vào từng Bang. Nhóm người Hoa có gốc Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam... lấy tục thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu làm gốc, còn người Hoa gốc Quảng Đông thì lấy tục thờ Quan Thánh Đế Quân làm gốc. Đền thờ Thánh Mẫu và Đế Quân được xây dựng độc lập với nhau và thường gắn liền với Hội quán của từng Bang. Do vậy, hiện tượng xây dựng Thiên Hậu Cung và Hiệp Thiên Cung trong cùng một khuôn viên và tổ chức phối thờ, phối tế Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân của Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa là một biệt lệ.
Theo ký ức của các bậc lão thành, lúc đầu Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa được xây dựng gồm 3 khối:
-   Khối 1: Nằm ở trục giữa (trục chính) gồm: Tiền đường, Bái đường (Lễ đường) và Chánh điện. Chánh điện chia làm 3 gian: Gian giữa có bàn thờ Công đồng, bàn thờ Nam Hải Quan Âm và hậu cung thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu; gian bên trái thờ Phúc Đức Chính Thần và gian bên phải thờ Tài Bạch Tinh Quân.
-   Khối  2: Nằm ở bên trái gồm: Nhà cho người Thủ từ, Tả vu (nhà làm việc của Bang) và Nghĩa từ (nơi thờ các vị Tiên hiền và những người quá cố trong Bang).
-   Khối 3: Nằm ở bên phải gồm: Nhà dành cho khách, Hữu vu (nhà tiếp khách của Bang) và Nhà kho.
Toàn hệ thống gồm 9 ngôi nhà biệt lập được ngăn cách nhau bằng hệ thống giếng trời. Từ trên cao nhìn xuống ta sẽ thấy hệ thống giếng trời ấy thông nhau tạo thành chữ “Tĩnh” (#) có nghĩa là “giếng nước”. Đầu vào và đầu ra của từng đường giếng trời có trỗ cửa để thông với không gian bên ngoài và làm đường đi cho mọi người những khi không có sự kiện quan trọng.
Các bậc cao niên giải thích rằng, nước là yếu tố cơ bản để tạo nên sự sống; “giếng nước là nơi tụ thủy”, mà “tụ thủy tất tụ nhân”, nên có thể mang lại phồn vinh an ổn, giữ cho nguồn lộc của cháu con mãi được diên trường. Là những người tha phương tìm đất sống, lại chuyên lấy việc buôn bán làm kế sinh nhai nên nguyện vọng được sống an ổn và làm ăn phát đạt bao giờ cũng  được cộng đồng người Hoa đặt lên vị trí hàng đầu. Có phải vì thế mà người Hoa ở hải ngoại đã thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu như một vị thần hộ mệnh và thờ Quan Thánh Đế Quân như một vị “Võ Tài Thần”?
Còn nhớ lần về thăm Chùa trước ngày lễ khánh thành đợt trùng tu năm 2007, chú Hình Kiết – Bang trưởng Bang Hải Nam ở Ninh Hòa – đã dẫn tôi đi đến từng nơi vừa mới được trùng tu và nói: “Khi sửa chửa, chú và anh em đã cố gắng giữ đúng những gì đã có, không ai dám làm khác đi cái cũ, nhất là phải giữ nguyên được 9 nóc nhà”. Chú chỉ các cửa thông ra ngoài và  bảo, “phải thông thoáng thì khí mới không bị ngưng trệ. Thế mới tốt!”. Chú không nói gì về phong thủy, nhưng ai cũng biết người xưa khi xây dựng Thiên Hậu Cung đã tuân thủ nghiêm cẩn luật phong thủy. Xây sân trời theo hình chữ “Tĩnh” để tạo nên 9 không gian độc lập nhau trong một khối tổng thể và mỗi không gian đều có được Minh đường.
Trong luật phong thủy, Minh đường có một vị trí hết sức quan trọng vì là nơi tụ khí. Minh đường có thể là khoảng sân, hồ nước được đặt ngay trước  nhà nhằm tạo cho nên sự thông thoáng, mát mẻ cho không gian xây dựng mà các nhà phong thủy gọi là “nơi tụ khí”, và “khí tụ khi gặp nước”. Những khoảng sân trời trong Cung Thiên Hậu quán xuyến, giao thoa nhau tạo nên hình chữ “Tĩnh” được hiểu như yếu tố nước làm nên tiền đề cho khí tụ lại tại Minh đường và tạo nên phúc lộc. Đó cũng chính là ước vọng ban đầu của cộng đồng người Hải Nam khi tạo dựng Thiên Hậu Cung.

Lại nhớ, cũng vào dịp khánh thành cuộc đại trùng tu Quỳnh Phủ Hội Quán, anh Hình Phước Long có viết câu đối tặng để bày tỏ tấm lòng của mình trong ngày vui ấy: “Hải trình viễn xứ ân Thiên Hậu/ Nam lộ tầm hương nghĩa Đế Quân”. Ai dè, câu đối ấy lại được cộng đồng người Hải Nam ở Ninh Hòa và bè bạn các nơi về dự lễ hết sức tán thưởng, sau đó được viết lại trang trọng và treo ở phòng họp của Bang. Thật ra trong cõi tâm linh của người Hải Nam xa xứ luôn hàm ân sâu sắc đối với Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân. Hai vị không chỉ là Phúc Thần mà còn được cộng đồng xem như Bà (Ma Tổ), như Ông (Quan Công) thân thuộc của mình.
Người già của Bang Hải Nam ở Ninh Hòa kể lại rằng: Sau khi xây xong Thiên Hậu Cung (1868), đời sống tâm linh và tinh thần của cộng đồng người Hải Nam ở Ninh Hòa được cải thiện rất nhiều, những năm sau đó nhiều người làm ăn phát đạt nên vị trí của Bang Hải Nam ở Ninh Hòa cũng được nâng cao. Nhiều người bỗng thấy đời sống tâm linh của mình dường như thiếu đi một nửa, bởi vì vẫn chưa có nơi để thờ tự Đức Quan Thánh Đế Quân. Và phải đến 60 năm sau niềm day dứt ấy mới được giải tỏa. Hiệp Thiên Cung – nơi thờ Quan Thánh Đế Quân - đã được xây dựng ngay bên cạnh và theo đúng mẫu hình của khối chính giữa của Thiên Hậu Cung, làm cho Quỳnh Phủ Hội Quán thêm uy nghi, hoành tráng, tạo nên một hiện tượng kiến trúc thờ tự độc đáo đối với người Hoa ở Việt Nam và là niềm tự hào của cộng đồng người Hải Nam ở Ninh Hòa.
Được biết bản thiết kế xây dựng Hiệp Thiên Cung là của một Kiến trúc sư và là nhà phong thủy được Bang Hải Nam mời từ Hồng Kông sang. Ông ta đã ở lại Quỳnh Phủ Hội Quán một thời gian rồi trở về và mãi gần 2 năm sau mới hoàn thành xong bản thiết kế. Theo đó, Hiệp Thiên Cung gồm: Tiền đường được thiết kế hoàn toàn giống như Tiền đường của Thiên Hậu Cung; khoảng sân rộng và khối nhà làm nơi thờ tự gồm Bái đường và Chánh Điện để thờ Quan Thánh Đế Quân. Nếu chỉ nhìn bề ngoài thì Hiệp Thiên Cung là ngôi miếu được xây theo hình chữ Nhị và không có gì nổi trội nếu không muốn nói rằng, đấy chỉ là sự mô phỏng giản đơn của Thiên Hậu Cung. Thế thì vì sao người xưa phải tốn nhiều công sức vậy?
Thật ra, Hiệp Thiên Cung được xây dựng nhằm lấp đầy khoảng trống tâm linh và thổi vào đó ước mơ của người xa xứ về cuộc sống mà mình đã chọn. Lúc đầu khi dựng Thiên Hậu Cung người xưa đã xây theo hình chữ “Tĩnh” để tạo nên Cung Khảm như tự dặn lòng phải biết sống và ứng xử theo quy luật của nước; đồng thời cầu mong có được tài lộc lâu dài. Nay xây Hiệp Thiên Cung theo hình chữ “Nhị” nhằm tạo nên Cung Ly - bởi theo Dịch thì “Ly trung hư” -  để cùng với  Khảm của Thiên Hậu Cung hợp thành Quẻ Ký Tế và đó cũng chính là lời bái tạ của cháu con với Ông - Bà vì đã hoàn thành xong tâm nguyện.
Ký tế là quẻ thứ 63 của Kinh Dịch, là sự tương giao giữa Khảm và Ly để tạo nên cát khí, vì vậy quẻ được gọi là “Thủy Hỏa Ký Tế”. Khảm – Thủy và Ly – Hỏa khi tương tác với nhau trong sự hài hòa sẽ phát huy tác dụng tốt cho mọi mặt. Lý thuyết Đông Y cũng sử dụng khái niệm này để chỉ sự tương giao giữa tâm hỏa và thận thủy và cho rằng: “Tâm thận tương giao, âm dương hài hòa, thân thể kiện khang” và đó chính là “Thủy Hỏa Ký Tế”.
Các nhà Dịch học cho rằng :
“Khảm thượng Ly hạ, chu tiếp tế xuyên chi quái, âm dương phối hợp chi tượng. Kế viết: Ký tế hợp dã, thủy hỏa tương ngộ, hội hợp chi nghĩa, vãng độ đắc thuyền, thành công tất tế, sở cầu tất tùng, sở dục tất toại, tư bất thất thời, vị chi Ký tế”. 
“坎上离下,舟楫济川之卦,阴阳配合之象.断曰:既济合也,水火相遇,会合之义,往渡得船,成功必济,所求必从,所欲必遂,斯不失时,谓之既济。”
Nghĩa là: “Khảm trên Ly dưới, là quẻ thuyền đã chèo được qua sông, tượng trưng cho sự phối hợp của âm dương. Lại nói: Ký tế là sự hòa hợp, là sự gặp nhau của Nước và Lửa, nghĩa là gặp gỡ trong hòa hợp, như đến bến mà gặp thuyền, thì qua sông là điều phải được; điều  cầu thì được nghe theo, điều muốn thì được toại nguyện, không bỏ mất thời cơ, cho nên gọi là Ký tế.”
Kinh Dịch viết:
“Ký tế: Hanh tiểu, lợi trinh. Sơ cát, chung loạn.”  
“既濟:亨小,利貞.初吉,終亂”.
Dịch nghĩa:
“Quẻ Ký tế tượng trưng cho sự thành công: Giờ đây công đức đã hoàn mãn, cả đến việc nhỏ cũng đều hanh thông, thuận lợi cho việc giữ gìn chính đạo; mới khởi đầu rất tốt đẹp, nhưng nếu không thận trọng, thì chung cục lâu dài tất dẫn đến rối loạn”.
Sau đó lại viết:
“Thủy tại Hỏa thượng, Ký tế; quân tử dĩ tư hoạn nhi dự phòng chi.”
“水在火上,既济;君子以思患而预防之”。
Nghĩa là: “ Nước ở trên lửa, ấy là Ký tế; người quân tử phải có nghĩ suy đến những hoạn nạn về sau mà lo liệu việc phòng tránh vậy”.
Mong ước của người xưa là vậy (?!) Bới vì hơn ai hết những người rời bỏ quê hương tìm đất sống hiểu rằng, có được chốn yên ổn làm ăn đã khó, mà giữ cho có được lâu dài lại càng khó hơn nhiều. Cho nên lớp cháu con đừng vì sự thuận lợi nhất thời mà quên đi rằng, đã là cuộc đời thì phải có lúc thịnh, lúc suy. Điều cốt yếu là phải biết liệu lo để phòng ngừa bất trắc. Như đã qua sông phải đâu là hoàn toàn xong việc, vì bên kia bờ vẫn là những chặn đường xa và nào ai biết phía trước  có gì đang đón đợi. Phải chăng vì thế quẻ kế tiếp của Ký tế và cũng là quẻ cuối cùng của Kinh Dịch là quẻ Vị tế  - Chưa qua được sông - để bắt đầu chu kỳ mới?
Chẳng biết điều nguyện ước kia có được linh ứng không, nhưng từ ngày xây xong Hiệp Thiên Cung cộng đồng Bang Hải Nam làm ăn phát đạt lắm. Đến những năm đầu thập niên 30 của thế ký trước, số người Hải Nam ở Ninh Hòa dễ chừng đã lên ngót năm ngàn; Quỳnh Phủ Hội Quán đã trở thành trường học không chỉ cho con em người Hải Nam mà còn cho cả con em của cộng đồng người Hoa ở Ninh Hòa. Trường Tiểu học Bình Hòa cũng định danh từ đấy và trở thành ngôi nhà chung của cộng đồng người Hoa ở Ninh Hòa cho mãi đến hôm nay.
Tuy đã có một khởi đầu xán lạn, nhưng cộng đồng người Hải Nam ở Ninh Hòa vẫn luôn canh cánh trong lòng điều ghi trong quẻ Ký tế:
“Thủy tại Hỏa thượng, Ký tế; quân tử dĩ tư hoạn nhi dự phòng chi.”
“水在火上,既济;君子以思患而预防之”。
* * *
Hơn trăm năm đã trôi qua với bao vật đổi sao dời, với bao thăng trầm biến cố, nhưng Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa vẫn thế - thầm lặng lưu giữ những gì tốt đẹp của cuộc đời để hôm nay càng rỡ ràng, lộng lẫy. Bao lớp sóng phế hưng đã qua đây càng làm cho tình đất, tình người thêm nồng đượm. Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa đã, đang và sẽ là ngôi nhà chung lưu giữ mảnh hồn văn hóa Cha Ông của tất cả người Hoa ở Ninh Hòa vậy!
Tháng 3 năm Canh Dần (2010), về thăm lại chốn xưa nhân ngày Vía Bà và cũng là ngày Bang Hải Nam long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng công nhận di tích của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa trao cho Quỳnh Phủ Hội Quán Ninh Hòa. Tôi bồi hồi đứng trước cổng tam quan, bao nhiêu kỷ niệm tràn về theo hơi gió nam non. Cây bàng trước sân đã thay xong mùa lá, hòa cùng màu ngói lưu ly rạng ngời trong nắng mới. Lòng tôi gió đã chuyển mùa…

Hình Phước Liên
Nha Trang T10/2010