binhhoa-ninhhoa.org

 

LỊCH SỬ H̀NH THÀNH
BANG QUẢNG ĐÔNG NINH HOÀ
     

Từ xa xưa, cư dân của một số tỉnh thuộc đất nước Trung Hoa, v́  công việc làm ăn, họ phải thường xuyên dùng thuyền buồm, chở hàng hoá từ chính quốc sang các nước lân cận để giao thương, buôn bán, việc đi lại ngày càng thường xuyên, đông đúc hơn, trong số họ, có một số người xuôi ḍng xuống phương nam, cập các bến cảng tại Việt Nam trao đổi hàng hoá, mua bán nông lâm khoáng sản.

Sau đó v́ sự loạn lạc tại chính quốc, cũng như v́ kế sinh nhai nên một số người đă chọn nơi đây là quê hương thứ 2  để lập nghiệp, định cư lâu dài, ổn định; Họ thường tập trung tại các thị tứ, phố xá để thuận tiện trong việc làm ăn buôn bán. V́ phải tha hương cầu thực, họ thường lập ra các Hội đồng hương, các Hội Quán để giúp đở nhau trong công việc làm ăn, cũng như để bảo tồn, phát huy nét văn hoá của dân tộc ḿnh. Sau bao thăng trầm của thời cuộc, đại bộ phận bà con Hoa Kiều cũng dần dần ổn định cuộc sống, hoà nhập với  đồng  cư dân bản địa .

 Trải. qua nhiều thế hệ, để lưu truyền, bảo tồn văn hoá của ḿnh, cộng đồng người Hoa có nhiều phương thức như: bằng chữ viết, tiếng nói, qua các câu chuyện truyền khẩu, hoặc lưu giữ bằng trí nhớ, Y phục truyền thống, qua các tập tục ma chay, cưới hỏi, các nghi thức lễ hội, trong việc lưu giử và phát triển nền Y - Dược học cổ truyền, cũng như bằng nhiều h́nh thức dân gian khác .  .  .  . 

Vào những năm 1800 đồng bào Hoa Kiều sống trên đất nước Việt Nam nói chung và tại Ninh Hoà nói riêng đă phát triển mạnh về mặt số lượng cũng như chất lượng cuộc sống, ngày càng được nâng cao và sau khi cuộc sống đă ổn định lâu dài, nhu cầu giao lưu trao đổi về mặt tinh thần, tín ngưỡng cũng được đặt ra. 

Người Hoa sinh sống tại Ninh Hoà nói chung gồm 3 nhóm chính: Bang Quảng Đông, Bang Hải Nam và Bang Triều Châu, ban đầu tuỳ theo vốn liếng, họ buôn gánh bán bưng, làm ăn nhỏ và dần hồi phát tài, trở thành các chủ hiệu buôn lớn, ăn nên làm ra. Nhờ vào uy tín, đức độ cũng như những t́nh cảm đặc biệt, nhiều tên tuổi Hoa kiều đă đi vào tâm khảm của người dân sứ Ninh này như các ông bà Đông Thành, Liên Thành, Phương Viên, Vạn Thành, Đồng Thái, Khâu Thiên Bồi, Hàng Tựu Thành, Phù Thoại Thành, Phổ Tế Đường, Văn Hoá, Kinh Kư, Nam Thuận Lợi, Đồng Khánh, Nam Thái, Hoa Phát, Lợi Phát, Vạn Tường, La Lợi, Bata, Quảng Thái, Cần Lợi, Vạn Lợi, Vạn Nguyên, Đổ Trân Kư, Lợi Hanh, Kim Thành, Vui vẽ, Tự Nhiên, Chấn Phát, Cẩm Sanh, Cẩm Hưng, Thuận Lợi, Nguyên Phát, Lợi Phát, Việt Lợi, Hoà Xương, Quảng Kư, Dân Dân,Trung Thành, Minh Thành, Liên Ích Hoà, Nam Hoà, Hương Giang, Trung Hưng Long, Trung Mỹ Long, Mỹ Hoà, Hưng Kư, Phó Trí Sanh, Đồng Ích, Tân Sanh, Vĩnh Tân, Ánh Hưng, Vạn Tín,  Tiến Thành, Phước Lợi, Văn Tân, Tân Sanh Hoạt, Xuân Lợi, Tân Phát, Đức Thái, Phước Thành, Châu Chí Hoà, Liên Hoa, An Lợi, Lư Du Hoà, Tân Hoà, Đại Quang Minh, Mỹ Thành, Nghĩa Sanh, Nghĩa Hiệp, Thoại Hưng, Mỹ Lạc, Nhơn Hoà, Lương Vĩnh Đức, Mỹ Quang, Quảng Sanh Hoà, Ninh Hoà Đường . . . . . . . . 

Tại Ninh Hoà ba đại Bang đều có Hội quán, nơi thờ tự riêng biệt, đây vừa là trụ sở sinh hoạt chung và cũng vừa là tổ đ́nh thờ phụng và cúng tế các bậc tiền hiền, các Bang hửu đă khuất. 

 Riêng Bang Quảng Đông Ninh Hoà đang quản lư 2 ngôi cổ miếu đó là: Vỏ Đế Miếu (thường gọi là Chùa Ông) toạ lạc tại thôn Văn Định, Xă Ninh Phú, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà và Thiên Hậu miếu (thường gọi là Chùa Bà) toạ lạc tại 338 Trần Quư Cáp, TT Ninh Hoà, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà, nơi đây cũng là trụ sở chính thức của Ban Trị Sự Tuệ Thành Hội Quán Quảng Đông, Ninh Hoà. 

Để hiểu rỏ hơn về sự h́nh thành của 2 ngôi cổ miếu này, chúng ta cần phải ngược ḍng thời gian. 

Vào năm 1814 được sự hiệp lực, đồng tâm hưởng ứng của cộng đồng người Hoa gốc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, ông Đàm Thành An được tín nhiệm giao quyền thành lập Bang hội. Với tinh thần trách nhiệm cao, các ông Đàm Thành An, ông Bành An Thuận, ông Đàm Măi Nhủ được xem là những vị Bang Trưởng đầu tiên của Bang Quảng Đông Ninh Hoà, các vị đă đứng ra vận động toàn Bang Hội và các Hoa Kiều đồng hương lạc quyên xây dựng Vỏ Đế Miếu thờ Ngài Quan Thánh Đế Quân ngày nay (Căn cứ theo văn bia lạc quyên năm 1814 c̣n lưu giử tại Vỏ Đế Miếu). 

Hiện nay, Miếu không thờ Phật (Nhưng nhiều người quen gọi là Chùa), ngoại trừ Quan Thế Âm dưới dạng như một Thánh Mẫu. Miếu cũng không có sư trụ tŕ mà chỉ có một ông Từ lo việc nhang khói hàng ngày. Miếu kiến trúc theo h́nh chữ Kim, phía trước có xây cổng tam quan, mái cong có đắp h́nh lưỡng long tranh châu. Bên trong, có một sân rộng chạy dài từ cổng vào, dùng để tổ chức những cuộc múa lân trong các ngày vía lớn, hai bên sân Miếu là khoảng không gian rộng lớn có trồng các cây cổ thụ để che mát đồng thời để tạo cảnh quan cho Miếu, chung quanh có xây tường bao bọc. Trước khi vào bên trong Lễ đường mọi người phải qua một cửa lớn bằng gổ sơn màu đỏ sẩm (Cửa chỉ mở trong các ngày lễ vía), mọi người phải bước qua một ngạch cửa mà dân gian thường gọi là lục địa để rủ bỏ những  phiền toái, thế tục bên ngoài, Phía hông, sát vách bên trái thờ Tiên linh và Thổ Địa, phía giữa là một khoảng sân thiên tĩnh để lấy ánh sáng, tạo sự thoáng đảng bên trong, hai bên là hai nhà ngang nối với lễ đường và phía trước lễ đường là một hàng cửa nối với chính điện (chỉ mở trong các ngày lễ vía, các ngày thường chỉ được dùng cửa bên hông). Bên trong chính điện, phía trước là bàn Hội Đồng nơi đặt lễ vật cho các ngày vía lớn, tiến sâu vào bên trong là bàn thờ sắc Ông, ấn Ông, cờ lệnh và phía sau cùng là đại điện thờ Quan Thánh Đế Quân. Tượng Quan Thánh làm bằng đất Thiểm Tây, được vận chuyễn từ Trung Quốc sang, tượng cao 1m6, chiều ngang 1m4 trong thế tỉnh toạ, mặt đỏ sậm, bộ râu 5 cḥm đen nhánh chạy dài đến bụng, hai tay gát trên hai thành ghế có chạm h́nh đầu rùa, trên khắc chữ  vương. Ngài đội mũ Kim Hoa, bên trong mang giáp trụ, có thêu h́nh rồng bốn móng; phía ngoài khoác lục bào. Theo sử liệu, b́nh sinh Ngài rất thích mặc chiếc lục bào, v́ đây là kỷ vật của Lưu Bị tặng cho từ buổi sơ ngộ. Áo dài và giáp trụ c̣n là biểu tượng cho bậc tài trí văn vỏ song toàn. Đứng hầu hai bên Ngài, phía trước bên tả là Châu Thương, mặt rằn, râu xoắn, tay cầm Thanh Long Đao, bên hửu là tượng Quan B́nh, nét mặt thanh tú, đội mũ tú tài, chiều cao mỗi tượng: 1m4 ngang: 0,6 m. 

Phía sau vách hậu bên phải Điện Ông thờ Tài Bạch, phía bên trái thờ Quan Thế Âm và Bài vị của thiền sư có pháp danh: Thượng Tráng Hạ Hải, người trụ tŕ thảo am trên mảnh đất này trước khi nhượng lại cho Bang Quảng Đông.

 Theo quan niệm cổ truyền của người dân Trung Hoa, người sống có mái nhà, người chết có nấm mồ. Nên ngoài việc phải lo cho người đang sống, c̣n phải nghỉ đến người đă khuất ; Năm 1867 ông Tạ Hoả Hiệp, Bang Trưởng đời thứ 6 thay mặt cho bà con Bang Hửu kư mua đất để xây dựng Nghĩa Trang Quảng Đông tại núi Ḥn Sầm, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà (Các văn bản cựu khế vẫn c̣n được lưu giữ nguyên vẹn tại Bang Hội)

 Dựa theo các cổ vật c̣n lưu truyền và chiếu theo lịch nhiệm của các đời Bang trưởng, ta có thể suy đoán ra: Trước năm 1877 lúc bấy giờ dưới đời Bang trưởng Lương Trắc Năng (Lương công Vinh) đă chủ sự đứng ra vận động xây dựng nên Miếu Thiên Hậu, Đến năm 1886 ông Huỳnh Nhật Tân, Bang Trưởng đời thứ 8 kư cựu khế mua đất xây dựng nên Miếu Thiên Hậu và Hội Quán Quảng Đông Ninh Hoà (căn cứ theo cựu khế ngày 04/02 năm Trùng Khánh thứ 2 c̣n lưu tồn) các vật liệu được chuyên chở từ Trung Quốc sang như Tượng Bà, cột trụ, bệ thờ; Lúc đầu Miếu chỉ xây dựng đơn sơ, đồ vật trang trí chưa nhiều, đến năm 1890, Miếu tiếp nhận thêm bộ lư đá, chung đồng, bàn thờ chạm trổ tinh vi, các câu đối, liễn thờ được khắc chạm công phu, tinh xảo, Sau đó đến năm 1897, Miếu tiếp nhận thêm các bộ phù điêu bằng sứ từ chính quốc, mô tả lại các điển tích, vua chúa, quần thần, các bộ lưỡng long tranh châu, cá hoá long .  .  .  để trang trí trên các bức vách, mái nhà, góp phần tô điểm cho Miếu được huy hoàng, sáng lạng hơn và cũng kể từ đây Bang Quảng Đông Ninh Hoà có được 2 ngôi cổ miếu làm nơi thờ tự, có nghĩa trang làm nơi an nghỉ cho người đă khuất trong Bang, có Hội quán để hội họp, giao lưu, trao đổi thông tin liên lạc với toàn cộng đồng.

Năm 1903 nhận thấy Bổn Bang dày công xây dựng chăm sóc, một nơi thờ tự trang nghiêm tại địa phương nên các vị hào lăo hương thân cùng nhân dân sở tại cũng hiến cúng cho Miếu một số ruộng: 1 mẫu 3 sào, lấy hoa lợi làm kinh phí cho việc nhang khói (Căn cứ vào bảng chí lưu tại chùa Ông Văn Định)

 Đến năm 1936, bà Tăng Thị Bồi, phu nhân của cố Bang Trưởng đời thứ 13 là ông Lưu Vĩnh Đường (Quảng Kư) đă hiến cúng 1 thửa ruộng tư cho Bang Hội, với diện tích: 01 mẫu tám sào để lấy nguồn lợi thu hoạch được làm hương hoả cúng cho 2 ngôi cổ miếu (hiện nay văn c̣n bảng đồng lưu niệm) cho đến hôm nay, hàng năm Bang Hội vẫn c̣n hưởng phần hoa lợi này 

Đến năm 1940 đời Bang trưởng thứ 20 là ông Khâu Ngọc, nhận thức được việc bảo tồn, ǵn giử, phát huy và truyền bá các giá trị văn hoá dân tộc là một việc làm hết sức cần thiết, nên ông đă đứng ra vận động thành lập trường tiều học Trung Hoa Quảng Đông nhằm bảo lưu tiếng nói của dân tộc, cụ Hàng diệu Lợi giử chức Đồng Sự Trưởng, thầy Lưu Thiên B́nh ở Hội An vào dạy tiến Quảng Đông, thầy Trần Xương Sum dạy tiếng Bắc Kinh, từ đó văn hoá dân tộc được phổ cập rộng rải.

 Đến năm 1949 đương nhiệm Bang Trưởng lúc bây giờ là cụ lương Tuấn (Lương Vĩnh Đức) đă động viên, quyên góp kinh phí để trùng tu Miếu Thiên Hậu lần thứ 2, với kinh phí: 26.938 $ Đông dương.

 Đến năm 1958, v́ vật liệu xây dựng Miếu Quan Thánh chủ yếu là vôi vữa, đá san hô ngâm nước mặn đă không tránh khỏi xủi ṃn, nên ông Trưởng Bang đương nhiệm lúc bấy giờ là ông Khâu Lưu ( Khâu Thiên Bồi) hợp sức cùng toàn Bang sửa chửa lại nhà kho, nhà từ khang trang, ngăn nắp với kinh phí lên đến 138.250 $ Đông dương. 

Đến năm 1967, chánh phó hội trưởng đương nhiệm là ông Khâu Lưu và ông Âu Ba, phát động quyên góp, trùng tu lại Miếu Thiên Hậu, tu bổ lại khám thờ, lễ đường, công sở, nghĩa tự, nhà từ, nhà kho, lợp lại toàn bộ mái ngói đă bị hư nát, lát lại gạch bông trong chánh điện, tổng kinh phí: 1.334.800 VNĐ 

Đến năm 1986, cũng v́ phải tu bổ từng phần, nên phía trên mái cổ lầu và Chính điện, gạch ngói mục nát, nên Ban Trị Sự phải vận động bà con trong Bang đóng góp kinh phí để trùng tu Miếu Quan Thánh đợt 3; Trực tiếp theo dơi thi công có các ông Đường Văn, Huỳnh Kim Long, Quách Tấn Kỷ, tổng chi phí cho công tŕnh này: 257.650 đ Ngân hàng Nhà Nước đương thời.

 Theo thời đại, cũng như để tạo nét phong quang cho cảnh Miếu.

 Năm 1988, Ban Trị Sự xuất công quỷ đắp hai trụ rồng trước sân và lót gạch bông trong điện Ông để tăng thêm phần mỹ lệ sạch sẽ. 

Đến năm 1993, gặp điều kiện thuận lợi, được sự hổ trợ của kiều bào tại hải ngoại, được sự cho phép mở mang đường xá của địa phương (Trước đây đường đi vào Miếu phải đi dọc theo mé sông, đường đi nhỏ hẹp, lầy lội rất bất tiện) Bổn Bang họp bàn thiết kế, xây dựng cổng tam quan làm tiền diện của Miếu, đổ đất xây dựng một sân rộng nối liền cổng đến tận cửa Miếu, xây tường bao bọc chung quanh, đồng thời mở rộng đường nối liền Quốc Lộ 1 vào đến Miếu với chiều rộng 5m chiều dài trên 460m thuận tiện đi lại cho bà con địa phương cũng như khách hành hương. Trực tiếp theo dơi thi công gồm các ông: Đường Văn, Quách Tấn Cang, Lữ Tấn Mẫn, Lưu Thế Ninh, Khâu Lương Minh. Tổng kinh phí cho toàn bộ công tŕnh: 24.371.000 VNĐ. Riêng phần đổ đất , đắp đường, kinh phí tốn khoản gần 20 triệu, thời gian mất trên 40 ngày khẩn trương cho kịp lễ cúng tạ và tất niên năm Quư Dậu 1993, mọi người dốc toàn lực, mặc dù cuối năm bà con phải vướng bận cho việc gia đ́nh trong việc mở rộng đường trên phố chợ, đồng thời phải lo chuẩn bị đón tết Giáp Tuất. Điều đáng nêu lên đây là việc khởi công sau những ngày lụt lội, nhiều nơi nước chưa rút hết, Bang phải vận động toàn bộ nhân lực thanh niên trong Bang để vận chuyễn nguyên vật liệu từ trên quốc lộ 1 xuống Miếu để kịp thi công, đồng thời ban đất lấp ruộng để làm đường; Chân ngập sâu trong śnh lầy, lưng ướt đẫm mồ hôi, nhưng đâu đó vẫn vang lên những tràng cười vui vẻ, những câu tiếu lâm hóm hỉnh . . . . .  mọi người hăng say lao động, chạy đua với thời gian, nh́n cảnh tượng này chúng ta mới thấy hết sức mạnh của sự hợp quần, khuất phục mọi gian nan để hoàn thành, bảo vệ, chăm bón ngày càng tươi đẹp thêm những thành quả mà tiền nhân đă dày công xây dựng.

Năm 2004, v́ chủ trương của Nhà nước, mở rộng, nâng cấp đường Nguyễn Trường Tộ (Đường xuống xóm Rượu), trục đường này nằm dọc bên hông Miếu Thiên Hậu, việc này xâm phạm rất nhiều vào đất đai, tài sản của Bang và trong khi tiến hành tháo dở Nhà Tây và Nghĩa Tự để trả mặt bằng cho đơn vị thi công, v́ vật liệu xây dựng đă quá củ lại bằng đá vôi, hồ vửa nên làm ảnh hưởng đến các công tŕnh c̣n lại, có nguy cơ sụp đổ, để giữ an toàn, buộc ḷng phải tháo dở toàn bộ để xây dựng mới. 

Sau nhiều lần bàn bạc, đương nhiệm Bang Trưởng lúc bấy giờ là ông Đường Văn mới phát động sự quyên góp của  toàn cộng đồng người Hoa cả trong và ngoài nước, với sự nhiệt tâm của cộng đồng tại hải ngoại và nhất là công lao của các ông Khâu Lưu, Lữ Hiệp, Lữ An, Lưu Thế B́nh.  .  .  .  Riêng ông Khâu Lưu (Cựu Bang trưởng Bang Quảng Đông Ninh Hoà, cựu Lư sự hội người Hoa Ninh Hoà đang sống ở Mỹ) đă không ngại tuổi già sức yếu, bôn ba trên khắp đất nước Hoa Kỳ rộng lớn, từ tiểu Bang này, sang tiểu bang khác để vận động cho cuộc lạc quyên xây dựng lại Miếu Thiên Hậu, tấm ḷng của ông thật đáng được hậu sanh trân trọng !!

 Công tŕnh Miếu Thiên Hậu Thánh Mẫu được khởi công vào đầu tháng 02 năm 2003 đến ngày 21 tháng 9 năm 2003 là hoàn tất, làm lễ Khánh tạ, tổng kinh phí cho công tŕnh này:1.136.750.000 VNĐ (Có bản đá chí lưu) 

Hiện nay, Miếu Thiên Hậu là một công tŕnh kiến trúc được xây dựng hai tầng, tầng dưới là Hội trường, là nơi chiêu đải trong các ngày vía lớn, cũng là nơi hội nghị của toàn Bang, bên cạnh hội trường là văn pḥng Ban Trị sự Tuệ Thành Hội Quán, dùng làm nơi hội họp, tiếp khách. Hai bên hội trường có hai cầu thang rộng dẫn lên tầng trên, bên trái là Nghĩa Tự, nơi đây đang tờ tự, nhang khói hàng ngày cho gần sáu trăm bài vị của các bậc tiền hiền và các Bang Hửu quá văng. Gian giữa là lễ đường, sát hai bên góc tường có đặt hai bệ thờ, bên phải thờ Táo Quân, bên Trái thờ Thổ Thẩn,Thổ địa, Thần Tài. Gian giữa là chánh điện, bên trong chính điện là bàn hội đồng, phía trong là bàn thờ sắc, ấn Bà, Lệnh Bài, bên trái là nơi thờ Đức Khổng phu Tử, bên phải thờ Quan Thánh, phía trong cùng là điện Bà, Thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu 

Tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu được tạc bằng gổ cao 0,8m ngang 0,45m được đặt ngồi trên một chiếc ghế gổ, chung quanh là các tượng gổ nhỏ là các tuỳ tùng hộ giá Bà , Thiên Hậu Thánh Mẫu đầu đội măo Kim Hoa, thế ngồi đỉnh đạt, trông thật uy nghiêm. 

Đến năm 2006, v́ thời cuộc đă đổi thay, tín ngưỡng được coi trọng hơn trước, nên các Đ́nh Chùa Miếu được khách thập phương, thường lui tới rất đông, trong các ngày Vía lớn như Vía Đào Viên Kết Nghĩa 13/1 ÂL hàng năm Miếu Quan Thánh tiếp đón Bang Hửu, khách hành hương về dự lễ rất đông, khói nhang nghi ngút, trong Điện không có chổ chen chân, phía trước sân mọi người đứng ngồi la liệt, nhận thấy sự phức tạp này, đương nhiệm Bang Trưởng là ông Quách B́nh vận động trong Bang Hửu xây dựng được 2 nhà ngang bên tả và bên hửu chính điện, trước để cân đối cảnh quang, sau để có nơi tiếp đăi Bang Hửu, khách mời và các Bang bạn về dự lễ. 

Đến nay, đă trải qua 28 đời các vị Bang Trưởng và nhờ vào sự chung ḷng chung sức của toàn Bang, toàn cộng đồng người Hoa cả trong nước và kiều bào tại hải ngoại, nên các di sản giá trị mà tổ tiên để lại được mọi người ra công tu bổ, sửa sang, vun đắp, ngày càng huy hoàng, tốt đẹp hơn

Nhân Mùa Vu lan 10/7 năm Mậu Tư
Sưu tầm - Biên tập
Lưu Thế Ninh

Tài liệu tham khảo:
-          Di tích lịch sử Vỏ Đế Miếu Quan Thánh do Đường Văn & Quách Cảnh biên soạn 10/6/1995
-          Tư liệu của Quách Tấn Cang

binhhoa-ninhhoa.org