***Provided by : 黃壽淵先生 ***  

THẬP NHỊ ĐỒNG SONG



黃壽淵

Nếu ta nói sông Dinh là dòng sông trong xanh tắm mát những trưa nắng hè trong thời niên thiếu thì trường Tiểu Học Bình Hòa là cái nôi trí tuệ đã ướm mớm cho ta khối kiến thức cơ bản, làm hành trang khi ta tập tễnh bước vào đời.
Tôi tốt nghiệp trường Tiểu Học Bình Hòa niên khóa 1954- 1955. Lớp tôi chỉ có vỏn vẹn 12 học sinh: 6 nữ : Trương Tố Trân, Lý Nguyệt Quế, Phan Phụng Anh, Lý Nguyệt Hoa, Trương Xái Nam, Nhiêu Phụng Lục. 6 nam : Huỳnh Thọ Huyên, Hồng Phù Dân, Lương Trùng Tân,  Lương Chấn Hoài,  Diệp Bảo Khang

và Lữ Tấn Sơn.  Lớp học là phòng bên trái Lễ Đường, đối diện với Nghĩa Tự. Bên trái  lớp học có cửa sổ gỗ lớn nhìn ra bãi cỏ, những bụi “ trinh nữ” mọc chằn chịt, tua tủa gai nhọn hoắt, điểm xuyến nhiều nụ hoa tim tím và đưa những cánh tay gân guốc níu chân các nàng kim liên khoe nụ hồng trang nhã, đang mĩn cười với gió xuân. Dọc theo bờ tường sát Nhà Thương Ninh Hòa, những cây hướng dương hoa vàng tươi, mọc chen chúc trong đám cây ké đầu ngựa; treo lủng lẳng những chùm quả “đáng ghét” mà các nữ sinh khiếp đởm (vì những nam sinh nghịch ngợm hay dùng trái cắc ké ném lên đầu tóc các nữ sinh). Dưói bóng mát trải rộng của 3 cây bàng, ông Phù dựng một nhà sàn, nuôi trên 30 con dê. Cảnh “chưỡng mỡ”nô đùa của đàn  dê
mỗi buổi sáng ra chuồng, mùi “ sư phụ” ngai  ngái theo làn gió xông  vào lớp học thật  khó  chịu.

Năm ấy, thầy Phù Chí chủ nhiệm lớp kiêm dạy các môn quốc văn và lịch sử. Đặc biệt về môn lịch sử, thầy Phù giảng bài vô cùng hấp dẫn, lôi cuốn học sinh; ngoài các bài học lịch sử trong giáo trình, thầy còn khai triển thêm các câu chuyện về “ thâm cung bí sử” trong các triều đại Trung quốc: Dương Quý Phi , Võ Tắc Thiên nhà Đường, Bàng Hồng, Quách Què nhà Tống, Lục đỉnh ký, vua Càn Long du Giang Nam nhà Thanh v…v.Thầy Trần Thiệu Tùng

: nghiêm nghị, mang kính cận, cao và ốm; là “ phán quan” về kỷ luật,  trật tự nhà trường. Thầy dạy môn địa lý và công dân, là một hướng dẫn viên du lịch “pro”; đưa chúng ta về tham quan các sông dài hồ rộng bao la hùng vĩ, các thắng cảnh trứ danh của Trung Quốc. Thầy hiệu trưởng Huỳnh Húc dáng trang nhã, bảnh bao như thư sinh: dạy toán. Thầy Huỳnh Hữu Quốc cao ráo, có mái tóc bồng bền như sóng biển: dạy thường thức và thể dục thể thao. Thầy Lý Giang Sơn có giọng hát “ tenor”: dạy âm nhạc. Thầy Phương điêu luyện với cây bút lông, thi triển nét chấm phá như rồng bay phượng múa: dạy vẽ.
Người đời thường nói: nhất qủi nhì ma thứ 3 học trò. Trong niên học cuối, tôi cũng bày lắm trò tinh nghịch. Mọi “ uý danh” đều phát xuất từ câu chuyện không vui, bị bạn bè gán ghép trong thời niên thiếu. Đó là cái tên “ nhạy cảm buồn”, thế mà tôi lại bày trò ngỗ nghịch bất kính. Số là tôi biết lúc thiếu thời thầy Phù được bạn bè đặt” uý danh” là Lào Leo.  Một buổi trưa nắng gắt, tôi rủ trò Lương Trùng  Tân cùng đi tắm sông ở bến cầu Dinh. Chúng tôi đợi thầy Phù đạp xe đạp qua cầu Dinh, hai đứa cùng gọi lớn: Lào Leo..Lào Le.e.eo.. rồi nhảy “ùm “ xuống sông, lặn một hơi dài trốn dưới chân cầu. Lòng khoái chí nghe những tiếng bàn tán xôn xao của nhóm học sinh đang nhốn nháo nhìn xuống dòng sông truy tìm “thủ phạm”.  Hai đứa đợi trên cầu không còn tiếng ồn ào , mới “ yên chí lớn” bơi vào bờ, mặc lại quần aó đi đến trường.Nhưng khi vừa bước vào lớp học thì Trực Nhật Sinh “ mời” hai đứa lên văn phòng trường “ làm việc”, được thầy Phù giảng một bài luân lý về “Tôn Sư Trọng Đạo” rồi phạt hai đứa “ quỳ” một tiếng đồng hồ.
Để chuẩn bị mừng ngày lễ Quốc Khánh Song Thập, các lớp phải” tự” trang hoàng lớp học. Lớp 6 chúng tôi mỗi trò góp 2 đồng mua vật liệu. Ngày khởi sự công tác, mọi người đều được phân công rõ ràng: hai đại tỷ Xái Nam và Phụng Lục giữ chân thang tre để hai đại ca Tấn Sơn và Bảo Khang trèo lên dán giấy màu lên vách. Tôi và Phù Dân nhỏ nhất lớp được phân công khoáy hồ. Hai anh Trùng Tân và Chấn Hoài cắt giấy màu thành từng đoạn 2dm để bốn cô: Nguyệt Hoa, Phụng Anh, Nguyệt Quế và Tố Trân kết thành nhiều sợi dây xích đa màu rất nghệ thuật và đẹp mắt. Cách làm này đòi hỏi tốn nhiều hồ, mới đợt đầu đã ngốn mất hai chén hồ. Hai nhóc vội xuống nhà bếp ông từ phía sau lớp học khoáy thêm hồ tăng cường. Tôi xách lon sữa bò hồ nóng hổi vừa bước vào phòng học vừa rao: hồ nóng đây,hồ nóng đây! mại dzô, mại dzô vừa thổi vừa dán đây! !Lúc bấy giờ hai anh Tân và Hoài  chỉ chỉ chỏ chỏ đang hướng dẫn hai đại ca Sơn và Khang điều chỉnh khoảng cách và độ thòng các chùm dây màu rực rỡ sao cho hài hòa với khung phòng học. Còn hai đại tỷ đang giữ chân thang mà sao tóc tai lõa xõa, mặt ửng hồng căng thẳng, cứ  chăm chăm nhìn xuống chân thang tre.  Tôi “đoán già đoán non”: chắc sợ bụi dáng nhện rơi vào mắt? Không đâu, chiều hôm qua, cánh nam sinh đã tổng vệ sinh từ  trần cao và các  vách rồi cơ mà! Hay bụi dính trên đế giày” ba ta” của hai chàng rơi xuống? Hai nhóc bèn đến gần thang tre nhìn lên: Ối giời ! ! Ông “kẹ”…Hai nhóc dọt nhanh khỏi lớp học ..và ôm bụng cười ngất nghẻo.
Thấm thoát niên học sắp mãn. Một buổi trưa cuối tháng 5, anh Lữ Tấn Sơn rủ nhóm nam sinh đi uống nước dừa tươi. Từ sân vận động sau trường, chúng tôi băng qua cánh đồng ruộng lúa vừa mới thu hoạch. Nông dân cho nước ngập săm sắp chân rạ khô, chuẩn bị cày xới vở đất cho vụ hè thu. Gió đồng thổi mát rượi. Chúng tôi khó khăn mới băng qua được các bờ ruộng gồ ghề nhỏ hẹp đến một vườn dừa có căn nhà gạch ba gian, có sân rộng trước nhà phơi lúa.Anh Tấn Sơn bảo chúng tôi đợi ngoài vườn, anh ta vô nhà sau một chập, đem ra một cây rựa ngắn và cuộn dây dừa.Vườn có trồng nhiều loại dừa: dừa lửa trái bự màu cam, dừa bung trái to màu lục thân cao nghêu, lắc lư theo chiều gió. Đi quanh một hồi, anh chọn một cây dừa xiêm, thân nhỏ gọn cao chừng 6 thước, lủng lẳng 2 buồng dừa trái bầu bĩnh.Anh buộc một đầu dây vào con rựa, đầu kia quấn quanh bụng rồi “ thót” lên thân cây trèo nhanh như vượn, ngồi chĩnh chuệ  trên nhánh dừa, chặt từng buồng, cột dây thòng xuống đất. Trưa nắng gắt lại vừa mệt, nước dừa xiêm ngọt lịm mát đến ruột gan, chúng tôi “ tu” một hơi hết sạch một trái, vừa chuẩn bị thưởng thức trái thứ nhì thì một người đàn bà mặc bộ bà ba màu bần quân, độ chừng 45 tuổi, tóc búi cao từ nhà sau bước ra,vui vẻ hỏi: chào các cháu. Nước dừa ngọt không? Mấy cháu cứ ăn uống tự nhiên nghe. Chào cô. Chúng tôi đáp lại. Anh Sơn “nịnh”thay các bạn: Thưa má. Dừa của má vừa ngọt vừa mát. Chúng tôi ngạc nhiên đưa mắt ngầm hỏi nhau: sao anh Tấn Sơn gọi bà ta là má? Bỗng bà ta nhìn lên ngọn dừa, mặt biến sắc, dặm chân than: Trời ơi! Sao con chặt mất 2 buồng dừa để
“giống” của má rồí! Bà quay phắt trở vô nhà.  Tấn Sơn hoảng quá, chạy theo phân trần, đồng thời anh “ phất tay” về hướng chúng tôi ngầm bảo” dọt gấp”.  Chúng tôi ba chân bốn cẳng chạy băng đồng, thở hụt hơi vừa về tới sau Chùa cũng vừa lúc “ kẻng” gọi vô lớp.
Dĩ vãng giờ đã xa rồi. Thời gian trôi nhanh quá, thắm thoáng đã 55 năm.  Lúc chia tay, tóc xanh, da hồng. Ngày hội ngộ, da mồi, tóc mây. Ngày 30 tháng 8 năm 2008, cựu học sinh Bình-Hòa Ninh-Hòa tưng bừng mở hội tại Monteray Park, tôi chỉ gặp lại 4 “đồng song”. Nói sao cho hết nỗi vui mừng. Kỳ hội ngộ năm nay, tôi sẽ phone “động viên” các “cụ” cố gắng về “hội ngộ” trước khi sức khỏe  “ bất tồng tâm”.

May.05.2011
Sau đêm Hội Ngộ 2008 vài hôm, ông bạn già Hồng Phù Dân ghé nhà chơi và tặng tôi một tấm hình cũ (cuối thập niên 40): điệu vũ mọi trong rừng Phi Châu Rồi hỏi tôi: nì còn nhớ tên những người trong hình không? Tôi đeo kính lão vào, mở mắt “ cực lớn” chăm chú nhìn từng thằng mọi con đen thui như than hằm trong tấm hình cũ ngã màu vàng, chỉ nhận diện được 3 người còn 7 người kia thì chịu thua. Dân lại hỏi: còn nì quỳ chỗ nào? Tôi mở thêm 2 cây đèn trần tăng độ sáng, nhưng tôi cũng không tìm được mình trong hình.  Dân cười khoái chí: đứa có bụng “ bự” nhất là nì đó….Ha….ha….
Già mà còn háo thắng, tôi hỏi Dân: nì còn nhớ bản nhạc đệm cho chúng mình múa không? Dân lắt đầu: ngộ không nhớ!!! Tôi hát lại bài nhạc đệm rồi cũng cười ha ..hả…”Một đều” nghe bồ!
Cuối năm 1949, Ban giám hiệu trường tiểu học Trung Hoa của Huệ Thành Hội Quán có tổ chức trình diễn văn nghệ và mời phụ huynh học sinh đến xem để nối kết dây liên lạc, theo dỏi sự học hành của con em và yểm trợ giữa học đường với gia đình. Trong buổi trình diễn nầy có 3 tiết mục tôi vẫn còn nhớ đến hôm nay: Lữ Bố hí Điêu Thuyền (trích đoạn trong Tam Quốc Chí) cảnh phông tô vẽ giàn dựng rất công phu “ hoàng tráng”.  Nàng Điêu Thuyền diễm lệ (do chú Khâu Dung, thường gọi chú Sáu Yên đóng vai) đang  đi qua đi  lại trên Phụng Nghi Đình, tay măng mê khăn lụa hồng, chốc chốc nhìn xuống sân khấu, nóng lòng chờ chàng hổ tướng Lữ Bố (do thầy Lâm Hồng Cô đóng vai) hẹn dưới ánh trăng thanh gió mát.  Họ mặc cổ trang sặc sỡ đẹp đẽ. Hai bản nhạc tình do cặp tình nhân “ tán” nhau ôi sao du dương, tình tứ.
Tiết mục : Trừ gian. Diễn cảnh tên du đảng (do thầy Đường Văn đóng vai) ăn quịt tại tiệm mì ông Tù (do anh Giang Vĩnh Quyền đóng vai) được người giúp việc can đảm bênh vực (do chú Huỳnh Sanh đóng vai). Diễn màn đấu” dao găm”rùng rợn, ngoạn mục. Chân lý tà không thắng chánh, kẻ gian thua , tẩu thoát bằng cách phóng vọt ra ngoài sân khấu rồi biến mất vào màn đêm (kỹ thuật đu bay thật tuyệt vời).
Tiết mục nhớ đời: Vũ điệu rừng Phi Châu. Trong vũ điệu này gồm một vị tù trưởng (do anh Phan Gia Yến đóng), một ông toán trưởng (do thầy Hồng Phù Quốc đóng) hai “ tà lọt”( Lương văn Tân bên trái)  (Ôn Kiến An bên phải) và sáu nhóc mọi con (hàng quì, từ trái qua phải: Dương Căn, Huỳnh Thọ Huyên, Chung Diến Bổn, Trần Cẩm Xuyên, Âu Tri và Hồng Phù Dân.  Rộn ràng nhất là khâu hóa trang.  Anh Yến xuống bếp Chùa mượn hai cái chảo to tổ chảng, lật úp xuống, dùng dao nạo” lọ nghẹ”, hòa chung với dầu dừa thành” xi ra đen” hảo hạng, rồi thay nhau “ quẹt” lên mặt, tay chân, mình mẩy sao cho giống mọi đen là” đạt”. Thầy Hồng thì giả phấn trắng, pha vào ít nước rồi vẽ 3 vòng tròn quanh mắt và miệng làm” mọi Cà răng Căng tai”.
Vũ điệu lạ mắt, vui nhộn, Mọi ta rập rền múa theo tiếng trống man di trong rừng thẩm hoang dã đã làm khán giả thích thú.
Thế mà đã qua 62 năm rồi nhỉ! Khi tôi cầm tấm hình cũ lên xem, hình như tôi còn nghe tiếng trống rừng hoang đang vang vẳng trong tiềm thức…
                                                                                              Đầu hè 2011. Huỳnh Thọ Huyên